Blog solar

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH GIÁ ĐIỆN ĐẾN ĐIỆN MẶT TRỜI LẮP MÁI NỐI LƯỚI

Trong qui hoạch phát triển năng lượng và điện lực quốc gia, Nhà nước đã đặt những mục tiêu khá cao về tỷ phần của năng lượng tái tạo (NLTT) nói chung và điện mặt trời (ĐMT) nói riêng trong cân bằng năng lượng toàn quốc cho tương lai gần. Để phát triển nhanh các nguồn điện sử dụng NLTT trong đó có ĐMT nhằm đạt được những mục tiêu đó, bên cạnh những yếu tố như khung pháp lý, nguồn vốn, những vấn đề kỹ thuật và công nghệ..., chính sách giá điện có tác động hết sức quan trọng.


1/ Chính sách trợ giá FIT (Feed-in-tarrif) đối với các nguồn điện sử dụng NLTT nối lưới
 

FIT được thừa nhận là một chính sách thành công để thúc đẩy sự phát triển nhanh sử dụng nguồn NLTT nói chung và ĐMT nói riêng. FIT bao gồm 3 yếu tố cốt lõi:

  • Cơ sở pháp lý để các nguồn điện sử dụng NLTT trong đó có ĐMT được kết nối với lưới điện.
  • Có hợp đồng bán điện dài hạn.
  • Mức giá bán điện có lãi hợp lí cho nhà đầu tư.

 

Việc hoạch định FIT gắn liền với mục tiêu quốc gia (MTQG) về phát triển NLTT. Kinh nghiệm cho thấy, hàng chục năm trước đây (những năm 2000 -2005) quốc gia nào có MTQG rõ ràng và đủ mạnh đều có sự phát triển vượt trội về NLTT hiện nay. Chẳng hạn, lấy những năm 2020 làm mốc thì Đức đưa ra mục tiêu 47% điện năng sử dụng là NLTT, Pháp: 4,9GW công suất quang điện, Ailen: 40%, Scotland: 50%, Ấn Độ: 14GW, mục tiêu công suất đặt của ĐMT năm 2030 ở Ấn Độ là 52GW, Trung Quốc là 2000GW, Malaysia là 6,5GW, Philippines là 1,528GW [15-28]. Đến nay hàng trăm quốc gia đã xây dựng MTQG, chính sách phát triển và kế hoạch hành động NLTT. Nhiều quốc gia có chính sách hỗ trợ đầu tư cho NLTT (Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, một số bang của Mỹ, Úc, Hà Lan, Luxembour, Uganda, Syria ...), kéo dài thời gian trợ giá, sửa đổi mức trợ giá, điều chỉnh tỉ lệ giảm thuế hàng năm. Một số nước còn trợ giá bằng luật pháp (Feed-in-law) và trợ giá vào thuế (Feed-in-tax). Tại Việt Nam, Nhà nước cũng quan tâm đến vấn đề trợ giá cho NLTT, thể hiện trong nhiều qui định của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư của các Bộ, Liên Bộ. Chẳng hạn, Quyết định 37/2011/QĐ-TTg ngày 29/06/2011 về cơ chế hỗ trợ các dự án điện gió tại Việt Nam (Nhà nước hỗ trợ cho bên mua điện khoảng 1UScents/kWh từ các nhà máy điện gió), hoặc gần đây Quyết định số 11/2017/QĐ- TTg ngày 11/04/2017 về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án ĐMT tại Việt Nam, theo đó giá mua điện từ các công trình ĐMT nối lưới là 9,35Uscent/kWh tại điểm giao nhận. Những quyết định này đã phần nào tạo động lực cho các nhà đầu tư vào NLTT. Riêng đối với điện mặt trời lắp mái nối lưới (ĐMTLMNL), ngoài tác động chung của FIT, tác động của biểu giá bán lẻ đóng vai trò rất quan trọng cho sự phát triển.

 

2/Tác động của biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc thang

Giá bán lẻ điện sinh hoạt là một trong giải pháp rất hữu hiệu được nhiều nước trên thế giới áp dụng để quản lí việc sử dụng điện trong sinh hoạt, có liên quan đến 3 đối tác chính: Nhà nước, các đơn vị điện lực, người dùng điện. Nhà nước là công cụ để điều tiết nhu cầu sử dụng điện, khuyến khích sử dụng tiết kiệm và hiệu quả, bảo tồn tài nguyên năng lượng và hạn chế tác động xấu đến môi trường. Đơn vị Điện lực: Doanh thu bán lẻ từ điện sinh hoạt đảm bảo không phụ thuộc vào thiết kế của biểu giá (số bậc thang và bước nhảy giữa các bậc) đảm bảo mức lợi nhuận hợp lí và phát triển bền vững. Người dùng điện: Phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng, đối tượng khó khăn được hỗ trợ, đối tượng sử dụng điện quá mức phải chi trả nhiều hơn cho 1kWh tiêu thụ.


Biểu giá bán lẻ bậc thang được xây dựng trên cơ sở các yếu tố sau: 

H1. Biểu giá điện bậc thang hiện hành của Việt Nam

 

Giá điện Ci tăng dần theo điện năng sử dụng Ai của hộ tiêu thụ. Giới hạn biến thiên của điện năng sử dụng trong mỗi bậc D Ai có thể là cố định (chẳng hạn như ở Việt Nam, Hàn Quốc: D Ai = 100kWh) hoặc thay đổi ( HongKong, Malayxia, Thái Lan...). Bước nhảy về giá của bậc thang D Ci thường được thiết kế cố định (HongKong: 14Hkcent/kWh/bậc) hoặc tăng dần đều (Hàn Quốc: 65 - 92,7 - 137,1 - 291,8KRW/kWh). Một số nước có bước nhảy giữa các bậc được thiết kế không đều (Việt Nam, Malayxia...).

Số bậc thang trong biểu giá thường bằng 3 đến 8 tùy theo từng quốc gia (chẳng hạn như ở Nhật, Trung Quốc, Indonexia, Lào, Campuchia: n=3; Mỹ, Malayxia: n=5; Hàn Quốc, Nam Phi: n=6; Thái Lan, HongKong: n =7; Philippines: n=8). Tại Việt Nam, số bậc của biểu giá bán lẻ điện đã thay đổi nhiều lần qua các năm: trước 1994 - 2 bậc, 1994 - 3 bậc, 1995 - 4 bậc, 1997 - 5 bậc, 2007 - 6 bậc, 2009 - 7 bậc, 2011 - 7 bậc, 2014 ¸ 2017 - 6 bậc. Khi lựa chọn số bậc thang và mức giá cho mỗi bậc phải dựa trên nguyên tắc là tổng doanh thu trong toàn hệ thống đối với điện thương phẩm dùng cho sinh hoạt không thay đổi, nghĩa là:

Trong đó: n - số bậc thang của biểu giá;

                Ci Ai - là mức giá và điện năng tiêu thụ cho sinh hoạt tương ứng trong toàn hệ thống ở bậc thang thứ i;

                Ctb - giá bán lẻ điện trung bình qui định; Ashå - tổng điện năng dùng cho sinh hoạt.

Trên đồ thị của biểu giá bậc thang (H1), điểm đặc trưng M là giao điểm giữa điện năng sử dụng trung bình tháng của hộ gia đình trong toàn hệ thống và giá bán lẻ điện trung bình qui định. Các bậc thang trước điểm M ( có Ci < Ctb) là những bậc thang được trợ giá, các bậc thang sau điểm M là những bậc thang phải trả giá cao hơn giá bán lẻ trung bình Ctb. Khi hộ gia đình lắp đặt hệ thống ĐMTLMNL tùy theo công suất lắp đặt, lượng điện năng phát ra từ nguồn ĐMT sẽ cắt bớt những bậc thang cao trong biểu giá bán lẻ cho gia đình, làm tăng hiệu quả kinh tế của công trình.

 

Ví dụ 1: Hộ gia đình có lượng điện năng tiêu thụ trung bình tháng ATT = 475kWh/tháng (H.1), điện năng do ĐMT phát trung bình tháng AĐMT = 360kWh/tháng (công suất đặt của dàn pin mặt trời Pđ khoảng 3 kWp). Tiền điện giảm được hàng tháng của hộ gia đình

  • Khi không có điện mặt trời: theo biểu giá hình 1, với 475kWh/tháng thì giá điện phải trả lên đến bậc 6 (cao nhất) với tổng số tiền = 968425 (đ/tháng)
  • Khi có điện mặt trời: lượng điện năng nhận từ lưới là 475-360 = 115kWh/tháng, tương ứng với bậc 3 của biểu giá và tổng số tiền phải trả là 117640 (đ/tháng). 

Tiền điện mà khách hàng phải trả hàng tháng giảm được là 968425 - 177640 = 790875 (đ/tháng). Nếu tính theo giá điện trung bình (1747đ/kWh) thì số tiền giảm được là 628920đ/tháng, thấp hơn so với tính theo bậc thang là 161865 (đ/tháng) Như vậy với cách tính trong ví dụ trên thì lợi ích đối với nhà đầu tư khi áp dụng biểu giá bán lẻ bậc thang tăng lên khoảng 25%.

 

3/ Tác động của giá bán điện theo thời gian sử dụng trong ngày (Time of use - TOU) [1,2]
 

Giá điện theo TOU được sử dụng nhằm mục tiêu điều khiển nhu cầu sử dụng điện (Demand Side Management - DSM), tránh sử dụng điện vào giờ cao điểm bằng cách áp đặt giá điện giờ cao điểm (Ccđ) cao hơn nhiều so với giá điện trong giờ bình thường (Cbt) và thấp điểm (Ctđ). Với mức chênh lệch hợp lí giữa Ccđ, Cbt, Ctđ khách hàng sẽ tự nguyện điều chỉnh quá trình sử dụng điện sao cho vẫn đảm bảo nhu cầu sản xuất và hoạt động nhưng tiền điện phải trả thấp nhất.


Tại Việt Nam, giá điện theo TOU được bắt đầu áp dụng từ năm 1992: giờ bình thường (BT) từ 4h - 18h (14 giờ/ngày), giờ cao điểm (CĐ) từ 18h - 22h (4 giờ/ngày) và giờ thấp điểm (TĐ) từ 22h - 4h sáng hôm sau (6 giờ/ngày). Trong quá trình áp dụng do tỷ lệ các thành phần khách hàng làm thay đổi hình dáng của biểu đồ phụ tải nên đã có điều chỉnh trong qui định các khung giờ CĐ, BT, TĐ. Khung giờ sử dụng điện theo thời gian trong ngày hiện hành tại Việt Nam được giới thiệu trong bảng 1.


Như vậy, nếu giá bán điện theo TOU có chênh lệch giữa giờ cao điểm và giờ bình thường càng lớn, chỉ tiêu kinh tế - tài chính của công trình ĐMTLMNL càng cao.

 

4/ Kết luận
 

Để phát triển nhanh và bền vững các nguồn điện sử dụng NLTT trong đó có ĐMT, cần có cơ chế hỗ trợ giá hợp lí (FIT) khi mua điện từ các nguồn này. Việc xây dựng hệ thống FIT cho mỗi nước gắn liền với mục tiêu quốc gia về phát triển NLTT cũng như nhiều yếu tố cụ thể, trong đó điều kiện tự nhiên và tiềm năng về NLTT, khung pháp lí, cơ chế tài chính và khả năng chi trả của người dùng điện.
Đối với các công trình ĐMTLMNL của nhà ở tư nhân, việc thiết kế và áp dụng biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc thang hợp lí có tác động rất tích cực đến hiệu quả kinh tế - tài chính của công trình. ĐMT sẽ cắt bớt các bậc thang cao, giảm đáng kể tiền điện phải trả của khách hàng. Biểu giá điện theo thời điểm sử dụng (TOU) rất có lợi cho các công trình ĐMTLMNL của các tòa nhà công cộng vì điện năng phát ra từ các công trình này phần lớn vào khung giờ cao điểm với giá bán cao hơn nhiều so với các khung giờ khác trong ngày.

Theo Tạp chí Khoa học và Công nghệ 125 (2018) 017-022
 

 




 



 

Bài viết khác
5 THƯƠNG HIỆU - NHÓM THƯƠNG HIỆU INVERTER NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI 2021

5 THƯƠNG HIỆU - NHÓM THƯƠNG HIỆU INVERTER NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI 2021

Trong bài viết này chúng tôi tôi xin chia sẻ một số đánh giá về các thương hiệu inverter năng lượng mặt trời có mặt trên...
Những điểm sáng của hệ thống điện năng lượng mặt trời áp mái

Những điểm sáng của hệ thống điện năng lượng mặt trời áp mái

Hiện nay hệ thống điện năng lượng mặt trời áp mái được đông đảo khách hàng tìm kiếm sử dụng. Tại sao hệ thống...
Tìm hiểu quy định về điện mặt trời áp mái

Tìm hiểu quy định về điện mặt trời áp mái

Mới đây, tổng công ty điện lực Việt Nam (EVN) đã đưa các quy định khi sử dụng điện mặt trời áp mái. Chắc hẳn bạn...
Bộ chuyển đổi inverter không hòa lưới

Bộ chuyển đổi inverter không hòa lưới

Bộ chuyển đổi inverter không hòa lưới là một trong những thiết bị quan trọng trong hệ thống điện năng lượng mặt trời...
CÓ NÊN LẮP ĐẶT ĐIỆN MẶT TRỜI GIÁ RẺ?

CÓ NÊN LẮP ĐẶT ĐIỆN MẶT TRỜI GIÁ RẺ?

Hiện chỉ cần bỏ ra 10tr/kwp là bạn đã có thể sở hữu một hệ thống điện mặt trời nhưng không biết sản lượng và...
LẮP ĐẶT ĐIỆN NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI CHẤT LƯỢNG TẠI BÌNH DƯƠNG 2020

LẮP ĐẶT ĐIỆN NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI CHẤT LƯỢNG TẠI BÌNH DƯƠNG 2020

Khi mà ngành năng lượng mặt trời đang phát triển như vũ bão trong năm 2020, các công ty thi công lắp đặt mọc lên như nấm....
Facebook
zalo
hotline